TÀI NGUYÊN

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    CHIEN_SU_O_DANANG_NAM_18581859.swf Hinh_69_Hai_Thuong_Lan_Ong_Le_Huu_Trac_17201791.jpg Hinh_68_Ngo_mon_Hue.jpg Hinh_67_Chua_Tay_Phuong.jpg Hinh_66_Tran_trau_thoi_sao_tranh_dan_gian.jpg Hinh_65_Luoc_do_nhung_noi_bung_no_cuoc_noi_day_cua_nhan_dan_chong_vuong_trieu_Nguyen_nua_dau_the_.jpg Hinh_64_Thuong_cang_thoi_Nguyen_tranh_ve_cuoi_the_ki_XVIII.jpg Hinh_63_Linh_can_ve_thoi_Nguyen.jpg Hinh_63_Linh_can_ve_thoi_Nguyen.jpg Hinh_62_Quan_vo_thoi_Nguyen.jpg Hinh_61_Luoc_do_cac_don_vi_hanh_chinh_Viet_Nam_thoi_Nguyen_tu_nam_1832.jpg Hinh_60_Tuong_dai_Quang_Trung_tai_go_Dong_DaHa_Noi.jpg Hinh_59_Luoc_do_dien_bien_tran_danh_don_Ngoc_HoiDong_DaTet_Ki_Dau1789.jpg Hinh_58_Luoc_do_chien_thang_Rach_GamXoai_Mut.jpg Hinh_57_Luoc_do_Tay_Son_khoi_nghia_chong_cac_the_luc_phong_kien_va_chong_quan_xam_luoc_nuoc_ngoai.jpg Hinh_56_Luoc_do_can_cu_dia_cua_nghia_quan_Tay_Son.jpg Hinh_55_Luoc_do_noi_dien_ra_cac_cuoc_khoi_nghia_nong_dan_o_Dang_Ngoai_the_ki_XVIII.jpg Hinh_54_Tuong_Phat_Ba_Quan_Am_nghin_mat_nghin_tay.jpg Hinh_53_Bieu_dien_vo_nghe_tranh_ve_o_the_ki_XVII.jpg Hinh_52.jpg

    Lịch Sử Trong Trái Tim Em

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của website về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Thông tin > Cội nguồn dân tộc >

    Những điều kiện hình thành và phát triển của văn minh Văn Lang - Âu Lạc.

    Trên bước đường phát triển, những cư dân nguyên thuỷ Phùng Nguyên, Hoa Lộc ... dựa vào các thành tựu văn hoá đã đạt được để chuyển dần xuống châu thổ hạ lưu các con sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Cả (sông Lam) khai thác đất đai, mở rộng nghề trồng lúa nước, xây dựng các xóm làng định cư, phát triển các nghề thủ công như luyện kim, làm gốm, dệt vài lụa, đan lát v.v... và bước đầu tạo nên sự giao lưu giữa các xóm làng. Trải qua nhiều thế kỉ lao động sáng tạo, những cư dân nguyên thuỷ đó là tạo nên được một nền văn minh mà giới khoa học đã gọi là văn minh Văn Lang - Âu Lạc, theo tên gọi những quốc gia đầu tiên đương thời.

    2.1 Điều kiện tự nhiên

    Nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc tồn tại chủ yếu trên châu thổ các con sông lớn: Sông Hồng, sông Mã, sông Cả.

    Sông Hồng là con sông lớn nhất miền Bắc Việt Nam, nó bắt nguồn từ dãy núi Ngụy Sơn, gần hồ Đại Lí (Văn Nam - Trung Quốc) chảy vào nước ta ở vùng Hà Khẩu(LàoCai).Lưu lượng của sông rất lớn (từ 700m3/giây đến 28.000m3/giây), hàng năm chuyển tải một khối lượng phù sa lớn (130 triệu tấn) lấp dần vịnh Biển Đông để tạo nên một đồng bằng rộng lớn, màu mỡ (hơn 15.000km2) đồng bằng Bắc Bộ này còn được bồi đắp thêm bởi phù sa sông Thái Bình.

    Sông Mã bắt nguồn từ Tuần Giáo và Pu Sam chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ ra Biển Đông. Cùng với sông Chu, phù sa của sông Mã đã tạo nên đồng bằng Thanh Hoá.

    Sông Cả (hay sông Lam) cũng góp phần tạo nên những đồng bằng nhỏ ở Nghệ An.

    Miền Bắc Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ tuyệt đối có khi xuống đến 3 - 50C hoặc lên đến 420C. Mưa nhiều, thường từ 990 - 100 ngày trong một năm với lượng mưa khá lớn, có năm lên đến 2741 mm ở Hà Nội. Cùng với nước lũ sông Hồng những đợt mưa dài thường gây ra lụt lớn.

    Thực tế lịch sử đã chứng tỏ điều đó. Bên cạnh lụt lội, bão táp, áp thấp nhiệt đới cũng xảy ra hàng năm gây ra nhiều tai hoạ lớn cho nhân dân và cây cối, ruộng đồng. Tuy nhiên, nhìn chung, thời tiết miền Bắc Việt Nam thuận lợi cho sự sinh trưởng các sinh vật và cuộc sống của con người. Thỉnh thoảng có một vài trận động đất nhưng hầu như không gây thiệt hại đáng kể.

    Những điều kiện tự nhiên nói trên thực sự thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và cuộc sống định cư lâu dài của con người. Với những thành tựu văn hoá đã đạt được, những đoàn người nguyên thuỷ từ Phùng Nguyên và các khu vực cùng thời đã mở rộng vùng cư trú của mình ra các địa điểm khác nhau của châu thổ các con sông Hồng, sông Mã, sông Cả, vùng ven biển để từ đó phát triển hơn nữa cuộc sống.

    2.2 Nested links are illegal

    Dựa vào các thành tựu của khảo cổ học, nhân học, chúng ta có thể biết cư dân nguyên thuỷ sống trên các vùng đồng bằng bắc Việt Nam đương thời đều thuộc các chủng tộc Nam á (Việt - Mường, Mông - Khơme), Hán - Thái . Với thời gian, các nhóm tộc người đó ít nhiều hoà lẫn vào nhau, có tiếng nói gần gũi nhau, pha trộn. Những di chỉ được phát hiện chứng tỏ rằng, bây giờ các nhóm cũng sống với nhau hoặc sống gần gũi nhau đã có số lượng khá đông, cùng lấy nghề nông trồng lúa nước làm nền kinh tế chủ yếu và cũng có ít nhiều những phong tục, tập quán giống nhau.

    2.3 Điều kiện kinh tế

    Do yêu cầu phát triển sản xuất và tiêu dùng hàng ngày tăng lên cùng với sự gia tăng dân số, do tính phức tạp của một số ngành nghề luyện kim, đúc đồng ngày càng phát triển. Thông qua các di vật tìm được ở các di chỉ sau Phùng Nguyên như Đồng Đậu, Gỗ Mun rồi tiếp đến Thiệu Dương, Đông Sơn, chúng ta hiểu rằng hồi ấy đã có hàng loạt công cụ sản xuất, vũ khí nhạc cụ bằng đồng. Trong số này đáng chú ?ý nhất là hàng loạt lưỡi cày đồng với nhiều hình dáng khác nhau: cánh bướm hình thoi v.v.... Cùng với hình con bò trang trí trên mặt trống đồng, sự xuất hiện của lưỡi cày chứng tỏ rằng, người đương thời đã chuyển từ nghề nông dùng cuốc sang nghề nông dùng cày. Nguồn sử liệu cổ Trung Quốc “Giao Châu ngoại vực kí” thừa nhận "Giao chỉ " (tức là bắc Việt Nam) khi chưa đặt thành quận huyện, đất đai có ruộng gọi là ruộng lạc, theo nước triều lên xuống mà làm, dân khẩn lấy ruống mà ăn " nông nghiệp lúa nước trên vùng châu thổ các con sông lớn (Hồng, Mã, Cả, Chu) đã trở thành ngành kinh tế chủ yếu, vừa tạo cơ sở cho định cư lâu dài, vừa tạo ra thứ lương thực cần thiết hằng ngày của người dân ở đây. Tất nhiên, để có được những vụ mùa vững chắc, con người phải thích nghi với sông nước và từng bước xây dựng mối quan hệ làng với làng. Cũng từ đây, nảy sinh những sinh hoạt văn hoá phản ánh mối quan hệ giữa các cộng đồng người với tự nhiên, giữa người với người ở các cộng đồng nông nghiệp.

    Bên cạnh nghề nông, việc trồng rau, trồng cà, trồng cây ăn quả, trồng dâu chăn tằm, nuôi gà , lợn, chó trâu bò v.v.... cũng ngày càng phát triển. Lương thực thực phẩm tăng lên và ngày thêm đa dạng. Đời sống của người dân cũng được đảm bảo hơn, vui tươi, ổn định hơn. Như trên đã nói, các nghề thủ công như luyện kim và sau này là rèn sắt, làm đồ gốm, dệt lụa, dan lát ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của con người. Số lượng đồ đồng tăng lên với nhiều loại dụng cụ như rìu, mũi giáo, mũi tên, liềm, dao; các nhạc cụ bằng đồng như chiêng, trống và tượng đồng .v.v... Số lượng đồ gốm cũng phong phú: bát, đĩa, bình, nồi, vò, chõ v.v..... Sự phát triển của kinh tế nông nghiệp với sự hỗ trợ đắc lực của nghề luyện kim đồng thau đã tạo nên cái nền cần thiết và cơ bản cho sự chuyển biến của xã hội từ trạng thái nguyên thuỷ sang thời đại văn minh. Tuy nhiên, cũng cần thấy thêm rằng, mặc dầu còn nhiều hạn chế , bây giờ đã có sự giao lưu, trao đổi sản phẩm giữa các vùng, nhất là các công cụ bằng đồng, các bát đĩa, bình gốm. Giao lưu là sợi dây nối liền các làng, các vùng tạo điều kiện cho sự ra đời của các tổ chức chính trị.


    Nhắn tin cho tác giả
    Lịch Sử Việt Nam @ 23:46 18/04/2017
    Số lượt xem: 3562
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến